Lớn lên trong món nợ cảm xúc

Lần đầu tiên tôi giúp bố mình đánh vần từ gì đó cho công việc của ông là khi tôi 7 tuổi, mà ông thậm chí còn không nhận ra điều đó.

Ông đã gọi mẹ tôi để đánh vần một từ. Mẹ và tôi luôn có tông giọng giống nhau dù khi tôi còn bé. Thế là tôi la lớn những chữ cái đó.

“Cám ơn nhé, Liz!” — ông nói, và gọi tên mẹ tôi. Tôi tự hào về mình lắm. Tôi đã giúp ông, và tôi cũng đã lừa ông. Tôi cảm thấy lén lút, như một điệp viên hay như một thiên thần hộ vệ cũng được.

Tôi từng được dạy một điều, thứ mà tôi chắc chắn là rất nhiều đứa trẻ khác cũng được dạy như vậy, trường học chính là công việc của tôi. Trách nhiệm của tôi là hoàn thành tốt mọi việc ở trường. Mẹ có một công việc. Bố có một công việc.

Và tôi có một công việc.

Vấn đề của lối suy nghĩ này chính là sự áp lực. Trường học là cái gì đó mà tôi phải làm thật tốt — bằng bất cứ giá nào. Cơn trầm cảm và lo lắng đã choán chỗ cho “công việc” của tôi, ngay cả ở độ tuổi đó.

Tôi đã chán nản đến mức không muốn tham gia bất cứ môn thể thao hay hoạt động nào sau giờ học, rồi đẩy mình vào rắc rối với việc đó, vì chúng cũng là “công việc” của tôi nữa. Làm sao tôi có thể vào một ngôi trường tốt nếu không có các hoạt động ngoại khóa?

Có bố mẹ trẻ cũng là thêm phần áp lực cho tôi. Bố mẹ sinh tôi khi họ là trẻ vị thành niên, và tôi luôn có một nhận thức rằng (đôi khi được nói, và đôi khi không) tôi phải làm điều gì đó thực sự tuyệt vời trong cuộc sống này, vì tôi đã thay đổi cuộc đời họ. Tôi luôn cảm nhận được gánh nặng này, thậm chí khi nó không biểu thị rõ ràng đi chăng nữa.

Và chưa bao giờ tôi dám than phiền cả, ngay cả lúc bị ốm. Ý tưởng về việc không nên tồn tại đã ngăn cản tôi khỏi việc bày tỏ cảm xúc. Ý tôi là, việc tôi ở xung quanh cũng đủ tệ lắm rồi… và giờ thì tôi định gây thêm rắc rối ư?

Gia đình của mẹ tôi đã phải vật lộn với chứng trầm cảm và lo lắng, và tôi đã trở thành một cách trị liệu cho nhiều người trong số họ. Tôi thích điều ấy — thích việc nghe tất cả các bí mật gia đình như một đứa trẻ… ai đã làm gì, ai bị nghiện cái gì, và ai đã quan hệ tình dục với ai. Tôi nhớ trọn mọi cuộc trò chuyện của người lớn (thứ đáng lẽ tôi không nên nghe).

Rồi mọi thứ bùng nổ từ đó — Tôi viết những giáo án, chỉnh sửa giấy tờ, làm gia sư, bảo đảm người họ hàng bị rối loạn lưỡng cực không tự tử, cố gắng xóa bỏ các hành vi lạm dụng của một số thành viên trong gia đình trong khi giữ hòa khí với những người bị ngược đãi, và làm việc cho họ tại thời điểm thông báo trong lúc đang học đại học và công việc cho bản thân.

Bởi luôn luôn có một ngụ ý ở đó: Đây là trách nhiệm của tôi.

Lại một ngụ ý khác: Tôi đủ thông minh để lừa người lớn nghĩ rằng tôi là một người trưởng thành. Và tôi tự hào về điều đó.

Ít ra, những người này nên gặp bác sĩ trị liệu. Nhưng tôi lại để họ đặt gánh nặng cảm xúc lên bản thân tôi.

Trước khi tôi nhận ra điều đó, tôi chưa đủ lớn để xử lí nó. Và tôi phải trưởng thành theo một cách khác: phải nói Không.

Gánh nặng cảm xúc của điều này đến với tôi từ vài năm trước, khi tôi nhận ra rằng việc nhận được bất kỳ tin nhắn nào nói, “Ta có thể xin con một ân huệ không?” hay “Con có đang ở gần đây?” cũng đủ để đưa tôi vào cơn khủng hoảng. Tôi bắt đầu tránh né những tin nhắn kiểu này hệt như tránh chủ nợ vậy.

Tôi bắt đầu nói không thường xuyên hơn, lập lên thời gian biểu và bám sát nó. Tôi bắt đầu nói mình có thể làm các thứ vào tuần tiếp theo thay vì ngay bây giờ.

Tôi bắt đầu giới thiệu liệu pháp tâm lý cho mọi người theo cách nhẹ nhàng, thường thì giải thích rằng tôi không phải là bác sĩ trị liệu, và tôi không thể cung cấp cho họ sự giúp đỡ mà họ đang tìm kiếm.

Điều này đã làm một số người (những người tuyên bố rằng họ đã quan tâm chăm sóc tôi) ngừng trò chuyện với tôi. Tôi thấy bị tổn thương… Dựng nên một ranh giới để bảo vệ bản thân để rồi gặp những mối đe dọa và sự xa cách sau khi đầu tư quá nhiều vào một ai đó chắc chắn đau đớn và giúp tôi mở rộng tầm mắt.

Nhưng nó cần phải như vậy.

Đây là điều mà tôi học được trong 2 năm dành thời gian cho bản thân, học cách nói không, và biết rằng hiệu suất “công việc” không quan trọng bằng sức khỏe tinh thần của mình.

Tôi đã học được nhiều điều khi gánh những gánh nặng của người khác: Tôi học cách sử sụng Adrenaline của sự lo lắng để hoàn thành xuất sắc công việc của tôi. Học biến nỗi sợ đó thành những kết quả một cách mau lẹ. Học cách tách biệt và rồi cảm thấy tê liệt. Học cách khóc trong im lặng. Và học cách xuất hiện và tận hưởng vai trò như nhà trị liệu không lương.

Tôi đã lớn lên mà thiếu đi những điều rất quan trọng với thành công và hạnh phúc của tôi. Tôi đã chẳng học cách đề ra những mục đích lâu dài vì tôi luôn bị bao bọc bởi bi kịch của hiện tại. Tôi đã chẳng học được điều tôi thực sự muốn làm với năng khiếu của mình. Tôi đã không học cách tôn trọng trí thông minh và khả năng của bản thân…thay vào đó, dùng chúng để nuôi dưỡng các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau mà bản thân không được lựa chọn ( như gia đình) và lựa một vài mối quan hệ khác (bạn bè và các anh bạn trai).

Tôi đã không học cách để được yêu thương khi là chính mình, mà liên tục cảm thấy như phải giành cho bằng được vị trí trong cuộc đời ai đó… và điều này dẫn đến hệ lụy là tôi thực hiện rất nhiều việc cho họ, nhưng chỉ được nhận lại rất ít. Tôi đã tin tưởng vào một gia đình chủ nghĩa tư bản. Tôi đã phải liên tục giành quyền để được sống.

Nhưng thật không công bằng khi bị đá khỏi cuộc sống của ai đó chỉ vì bạn không hành động như thể là một nhà trị liệu hay kẻ đầy tớ của họ.

Tôi cũng học được rằng, nếu bạn không ban cho ai đó 1 đặc ân, họ vẫn thường ổn.

Tôi đã ngừng cái việc mở lòng cho những ân huệ liên miên, tự phát, và thậm chí những người đã từng tuyên bố họ bị rối loạn cảm xúc mà không có sự giúp đỡ của tôi cũng đang làm rất tốt đấy thôi (ngay cả những người đã từ mặt tôi).

Tôi tự hào vì đã giúp đỡ họ, có thể làm công việc của mình và ngăn ai đó nhảy ra khỏi gờ đá và làm việc khác sau khi xử lý khủng hoảng sau khủng hoảng, nhưng cuối cùng, họ vẫn ổn nếu không có tôi.

Ấy nhưng tôi lại không hề ổn khi không có họ. Vậy nên, tôi cần ở đó…vì bản thân tôi.